Trang chủ | Email | W2G.,JSC | Liên hệ-Góp ý | SearchWiki:

W2G.,JSC

Project

Đối tác và khách hàng

Simulationvn

Tài liệu lập trình

3D Graphics - Đồ họa 3D

Xử lý ảnh

Sách điện tử

sửa SideBar

Main.Thuctaiaovavanhoa History

Hide minor edits - Show changes to markup

June 16, 2006, at 08:13 PM by 203.160.1.52 -
Changed lines 3-5 from:
  1. Đặt vấn đề

Hà Nội được xây dựng từ năm 1010, ban đầu còn mang tên Thăng Long dưới triều Vua Lý Công Uẩn. Dấu ấn không phai mờ theo năm tháng và điều dễ nhận thấy nhất là Hoàng Thành với những di tích cung điện của các bậc đế vương; các cửa ô lịch sử, nơi đã từng bảo vệ thành luỹ xưa kia và khu phố cổ với 36 phố phường được hình thành khoảng thế kỷ XV vẫn còn đó. Mỗi tấc đất, mỗi không gian đều phảng phất một không khí lịch sử, in đậm hồn thiêng sông núi. Vì thế mà nhiều ý tưởng, nhiều giải pháp đưa ra nhằm giữ gìn, tái tạo và điểm tô phát triển Thủ đô đang được nhiều người, nhiều giới trong và ngoài nước quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng về giá trị văn hóa lâu dài nhiều mặt của phố cổ và các di tích khác: Nhiều bài viết nghiên cứu về Hà Nội, các chuyên gia đã trình bày không chỉ bằng những chứng lý khô khan mà đưa ra những phân tích, khuyến nghị có cơ sở khoa học, có tình, có lý, có hồn về việc xây dựng Thủ đô ngang tầm với vị trí của Thành phố này, và phục chế, trùng tu các công trình lịch sử đã xếp hạng đang ngày một xuống cấp.

to:

Đặt vấn đề

Hà Nội được xây dựng từ năm 1010, ban đầu còn mang tên Thăng Long dưới triều Vua Lý Công Uẩn. Dấu ấn không phai mờ theo năm tháng và điều dễ nhận thấy nhất là Hoàng Thành với những di tích cung điện của các bậc đế vương; các cửa ô lịch sử, nơi đã từng bảo vệ thành luỹ xưa kia và khu phố cổ với 36 phố phường được hình thành khoảng thế kỷ XV vẫn còn đó. Mỗi tấc đất, mỗi không gian đều phảng phất một không khí lịch sử, in đậm hồn thiêng sông núi. Vì thế mà nhiều ý tưởng, nhiều giải pháp đưa ra nhằm giữ gìn, tái tạo và điểm tô phát triển Thủ đô đang được nhiều người, nhiều giới trong và ngoài nước quan tâm.
Nhận thức được tầm quan trọng về giá trị văn hóa lâu dài nhiều mặt của phố cổ và các di tích khác: Nhiều bài viết nghiên cứu về Hà Nội, các chuyên gia đã trình bày không chỉ bằng những chứng lý khô khan mà đưa ra những phân tích, khuyến nghị có cơ sở khoa học, có tình, có lý, có hồn về việc xây dựng Thủ đô ngang tầm với vị trí của Thành phố này, và phục chế, trùng tu các công trình lịch sử đã xếp hạng đang ngày một xuống cấp.

Changed lines 7-13 from:

Trước hết, nói về khu phố cổ, nơi lưu giữ rất nhiều giá trị văn hoá quý giá vật thể và phi vật thể của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Tên gọi “36 phố phường” bắt nguồn từ tổ chức 36 đơn vị hành chính cơ bản, điển hình thời phong kiến nhà Lê (được phân chia theo kiểu các phường nghề nghiệp). Trên nền 36 phố phường cũ, hiện vẫn có các phố Hàng Bạc, Hàng Chiếu, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Quạt... chiếm một diện tích 450 ha và với trên 80 công trình di tích lịch sử như chùa, đền, đình, miếu. Nghề cổ, thợ mới và ở đâu đó còn vang lên bài hát mới: “Hà Nội mùa thu... phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”... Mỗi con phố gắn với một tên gọi, một ngành nghề, và một chiến tích lịch sử 12 ngày đêm. Khu 36 phố phường nằm ở phía Đông của Hoàng thành cũ, đã từng là nơi đô hội buôn bán sầm uất, làm tăng thêm vẻ đẹp phong phú, hấp dẫn của đô thị. Nó là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc của khu vực đô thị cổ Hà Nội nói chung và Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại của nó cho đến nay, dù không còn nguyên vẹn, song nó vẫn mang tính đặc trưng của đô thị cổ mà chỉ Hà Nội mới có. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây chính là một trong những nơi sinh ra và nuôi dưỡng các truyền thuyết, ca dao, chuyện kể, lễ hội dân gian... Khu phố cổ là một tổng thể kiến trúc độc đáo. Với những đường phố thẳng, ngắn, có chỗ cong, gãy khúc; những mái ngói lô nhô phủ màu rêu phong cổ kính. Các kiến trúc đình, chùa, đền thờ, đình làng truyền thống... với nghệ thuật chạm khắc điêu luyện trên các loại gỗ tốt tạo hình dáng nghệ thuật trên cấu trúc vì kèo, cánh cửa; các đồ đạc như bàn thờ, giường, tủ, ghế, sập, kệ... là những sản phẩm kiến trúc đặc trưng cho các thời kỳ phát triển của lịch sử đất nước, là một phần của đời sống tinh thần, là linh hồn của người dân Thủ đô. Cùng với khu phố cổ thì các di tích khác mang tính quần thể, liên hệ nhiều đến tâm linh, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc như khu vực Hoàng thành mới được khai quật năm 2004 là một sự kiện trọng đại, một thứ quốc bảo, cần được Nhà nước, các ngành chức năng và toàn dân nâng niu, trân trọng, bỏ công sức, trí tuệ, tiền của để khôi phục, bảo tồn. Song, nói đến Hà Nội 36 phố phường, không thể không nhắc tới Hồ Gươm - một bộ phận quan trọng cấu thành trên vùng đất cổ thuộc kinh thành Thăng Long xưa kia. Sự tồn tại và phát triển của Hồ Gươm không chỉ là truyền thuyết kiếm thần của vua Lê Lợi, mà còn ghi sâu trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam hình ảnh một Tháp Rùa lung linh, một cầu Thê Húc in bóng xuống mặt nước biếc xanh và ngôi đền Ngọc Sơn cổ kính. Hồ Gươm - đó cũng là một điểm hội tụ sự ngưỡng mộ của khách thập phương mỗi khi đặt chân đến chốn kinh thành. Hồ Gươm cùng với các khu phụ cận là một mẫu hình về nghệ thuật tổ chức cấu trúc không gian. Ở đây có một hệ thống không gian mở, các quảng trường, các vườn cây, hồ nước liên hoàn với hệ thống không gian lưu thông, có ý nghĩa trong việc tạo thẩm mỹ cảnh quan môi trường đô thị. Đó là một phong cảnh kiến trúc khiêm nhường phù hợp với khí hậu nhiệt đới và tỷ lệ con người sống ở đó tương hợp... Tuy nhiên, hiện nay, phố cổ Hà Nội đang đứng trước những thách thức lớn. Nhiều năm liền, sự quản lý lỏng lẻo, việc cấp phép tuỳ tiện, tình hình chấp hành luật pháp, ý thức kém của một bộ phận dân cư.... đã làm xuống cấp, mất đi hàng trăm công trình kiến trúc văn hoá cổ. Việc quy hoạch chậm trễ, giải quyết vụ việc theo kiểu bị động... đã gây khó khăn cho công việc cải tạo, mở rộng, trùng tu, duy tu các di tích kể cả khu phố cổ.

to:

Trước hết, nói về khu phố cổ, nơi lưu giữ rất nhiều giá trị văn hoá quý giá vật thể và phi vật thể của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Tên gọi “36 phố phường” bắt nguồn từ tổ chức 36 đơn vị hành chính cơ bản, điển hình thời phong kiến nhà Lê (được phân chia theo kiểu các phường nghề nghiệp). Trên nền 36 phố phường cũ, hiện vẫn có các phố Hàng Bạc, Hàng Chiếu, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Quạt... chiếm một diện tích 450 ha và với trên 80 công trình di tích lịch sử như chùa, đền, đình, miếu. Nghề cổ, thợ mới và ở đâu đó còn vang lên bài hát mới: “Hà Nội mùa thu... phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”... Mỗi con phố gắn với một tên gọi, một ngành nghề, và một chiến tích lịch sử 12 ngày đêm. Khu 36 phố phường nằm ở phía Đông của Hoàng thành cũ, đã từng là nơi đô hội buôn bán sầm uất, làm tăng thêm vẻ đẹp phong phú, hấp dẫn của đô thị. Nó là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc của khu vực đô thị cổ Hà Nội nói chung và Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại của nó cho đến nay, dù không còn nguyên vẹn, song nó vẫn mang tính đặc trưng của đô thị cổ mà chỉ Hà Nội mới có. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây chính là một trong những nơi sinh ra và nuôi dưỡng các truyền thuyết, ca dao, chuyện kể, lễ hội dân gian...Khu phố cổ là một tổng thể kiến trúc độc đáo. Với những đường phố thẳng, ngắn, có chỗ cong, gãy khúc; những mái ngói lô nhô phủ màu rêu phong cổ kính. Các kiến trúc đình, chùa, đền thờ, đình làng truyền thống... với nghệ thuật chạm khắc điêu luyện trên các loại gỗ tốt tạo hình dáng nghệ thuật trên cấu trúc vì kèo, cánh cửa; các đồ đạc như bàn thờ, giường, tủ, ghế, sập, kệ... là những sản phẩm kiến trúc đặc trưng cho các thời kỳ phát triển của lịch sử đất nước, là một phần của đời sống tinh thần, là linh hồn của người dân Thủ đô. Cùng với khu phố cổ thì các di tích khác mang tính quần thể, liên hệ nhiều đến tâm linh, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc như khu vực Hoàng thành mới được khai quật năm 2004 là một sự kiện trọng đại, một thứ quốc bảo, cần được Nhà nước, các ngành chức năng và toàn dân nâng niu, trân trọng, bỏ công sức, trí tuệ, tiền của để khôi phục, bảo tồn. Song, nói đến Hà Nội 36 phố phường, không thể không nhắc tới Hồ Gươm - một bộ phận quan trọng cấu thành trên vùng đất cổ thuộc kinh thành Thăng Long xưa kia. Sự tồn tại và phát triển của Hồ Gươm không chỉ là truyền thuyết kiếm thần của vua Lê Lợi, mà còn ghi sâu trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam hình ảnh một Tháp Rùa lung linh, một cầu Thê Húc in bóng xuống mặt nước biếc xanh và ngôi đền Ngọc Sơn cổ kính. Hồ Gươm - đó cũng là một điểm hội tụ sự ngưỡng mộ của khách thập phương mỗi khi đặt chân đến chốn kinh thành. Hồ Gươm cùng với các khu phụ cận là một mẫu hình về nghệ thuật tổ chức cấu trúc không gian. Ở đây có một hệ thống không gian mở, các quảng trường, các vườn cây, hồ nước liên hoàn với hệ thống không gian lưu thông, có ý nghĩa trong việc tạo thẩm mỹ cảnh quan môi trường đô thị. Đó là một phong cảnh kiến trúc khiêm nhường phù hợp với khí hậu nhiệt đới và tỷ lệ con người sống ở đó tương hợp...
Tuy nhiên, hiện nay, phố cổ Hà Nội đang đứng trước những thách thức lớn. Nhiều năm liền, sự quản lý lỏng lẻo, việc cấp phép tuỳ tiện, tình hình chấp hành luật pháp, ý thức kém của một bộ phận dân cư.... đã làm xuống cấp, mất đi hàng trăm công trình kiến trúc văn hoá cổ. Việc quy hoạch chậm trễ, giải quyết vụ việc theo kiểu bị động... đã gây khó khăn cho công việc cải tạo, mở rộng, trùng tu, duy tu các di tích kể cả khu phố cổ.

Changed line 10 from:
  1. Phương án giải quyết
to:

Phương án giải quyết

Changed line 12 from:
  1. Thành phần của hệ thống thực tại ảo
to:

Thành phần của hệ thống thực tại ảo

Changed line 18 from:

2.2 Yêu cầu của hệ thống thực tại ảo

to:

Yêu cầu của hệ thống thực tại ảo

Changed lines 20-22 from:

• Thứ nhất là xây dựng mô 3D toàn bộ khu vực cần bảo tồn, với chất lượng hiển thị đồ họa tốt nhất có thể. Các đo đạc 3 chiều nói ở phần trước giúp chúng ta có thể tái hiện được các di vật, đồ tạo tác, nhà cửa và các vật thể 3 chiều khác trên máy tính. Hiện nay chúng tôi đã tiến hành xây dựng mô hình 3 chiều của đền Ngọc Sơn một cách chi tiết. Mô hình này được xây dựng bằng cách tẩm phủ các kiến trúc bề mặt bằng công nghệ mô phỏng nên bộ khung xương hình học được dựng bằng phần mềm Multigen Creator sau đó chuyển đổi sang dữ liệu đặc thù của chương trình hiển thị giúp người dùng có thể thị sát ở những góc độ khác nhau. Khi tiến hành tái tạo các di sản văn hóa cổ, một hệ thống các vật mẫu sẽ được kiến tạo dựa trên những dữ liệu đo đạc 3 chiều trực tiếp trên các di vật để làm mô hình trên máy tính. Qua đó có thể tiến hành xây dựng một bảo tàng số hóa các dữ liệu lịch sử. Việc thành công của dự án này đòi hỏi những nghiên cứu lịch sử nghiêm túc gắn liền với công nghệ mô phỏng thực tại ảo. • Yêu cầu thứ hai là xây dựng chương trình mô phỏng về mặt hình ảnh các hiệu ứng khi người dùng thị sát khu vực. Bởi chất lượng hiển thị đồ họa là nền tảng của bất kỳ một hệ thống mô phỏng thực tại ảo nào, thông qua các hình ảnh trực quan, các cảnh quan để người dùng cảm nhận độ trung thực của hệ thống mô phỏng. Với kỹ thuât đồ họa hiện nay có thể mô phỏng được hầu hết các hiệu ứng đồ họa chất lượng cao giúp tạo lập các sản phẩm mô phỏng và thực tại ảo.

to:
  • Thứ nhất là xây dựng mô 3D toàn bộ khu vực cần bảo tồn, với chất lượng hiển thị đồ họa tốt nhất có thể. Các đo đạc 3 chiều nói ở phần trước giúp chúng ta có thể tái hiện được các di vật, đồ tạo tác, nhà cửa và các vật thể 3 chiều khác trên máy tính. Hiện nay chúng tôi đã tiến hành xây dựng mô hình 3 chiều của đền Ngọc Sơn một cách chi tiết. Mô hình này được xây dựng bằng cách tẩm phủ các kiến trúc bề mặt bằng công nghệ mô phỏng nên bộ khung xương hình học được dựng bằng phần mềm Multigen Creator sau đó chuyển đổi sang dữ liệu đặc thù của chương trình hiển thị giúp người dùng có thể thị sát ở những góc độ khác nhau. Khi tiến hành tái tạo các di sản văn hóa cổ, một hệ thống các vật mẫu sẽ được kiến tạo dựa trên những dữ liệu đo đạc 3 chiều trực tiếp trên các di vật để làm mô hình trên máy tính. Qua đó có thể tiến hành xây dựng một bảo tàng số hóa các dữ liệu lịch sử. Việc thành công của dự án này đòi hỏi những nghiên cứu lịch sử nghiêm túc gắn liền với công nghệ mô phỏng thực tại ảo.
  • Yêu cầu thứ hai là xây dựng chương trình mô phỏng về mặt hình ảnh các hiệu ứng khi người dùng thị sát khu vực. Bởi chất lượng hiển thị đồ họa là nền tảng của bất kỳ một hệ thống mô phỏng thực tại ảo nào, thông qua các hình ảnh trực quan, các cảnh quan để người dùng cảm nhận độ trung thực của hệ thống mô phỏng. Với kỹ thuât đồ họa hiện nay có thể mô phỏng được hầu hết các hiệu ứng đồ họa chất lượng cao giúp tạo lập các sản phẩm mô phỏng và thực tại ảo.
Changed lines 26-34 from:

• Phần mềm mô phỏng cần số lượng khung hình là thời gian thực, nghĩa các khung hình phải liên tục khi dữ liệu được cập nhật (bao gồm cả vị trí và hướng quan sát). Còn hoạt cảnh số lượng khung hình được đặt trước, khi tạo cảnh phải mất hàng giờ để tạo. • Phần mềm mô phỏng cần độ tương tác cao để điều khiển sự chuyển động của các đối tượng trong cảnh. Hoạt cảnh không cho phép tương tác, người dùng cảm nhận thự động với cảnh. • Sự khác biệt quan trọng khác là tương tác ở mô phỏng là có mục đích. Ngoài ra mô hình trong mô phỏng có phần kém chi tiết hơn trong hoạt cảnh mục đích là để tăng số lượng khung hình • Phần mềm mô yêu cầu số lượng khung hình đạt 15-60 fps, phụ thuộc vào độ phức tạp và chi tiết của cảnh. Còn film luôn yêu cầu số lượng khung hình là 24 hoặc tùy thuộc vào yêu cầu và chuẩn của nó nhừng số lượng khung hình luôn cố định theo thời gian. 2.3 Dữ liệu hình học Chuẩn dữ liệu Open Flight? miêu tả dữ liệu 3D rất được ưa thích, gồm đầy đủ các thuật tính dữ liệu 3D và địa hình số để xây dựng các sản phẩm phần mềm mô phỏng tương tác thời gian thực. Hơn cả các công cụ mô hình hóa cơ bản khác. Creator được thiết kế để tạo mô hình có số mặt ít nhất. Làm cho yêu cầu về cấu hình máy tính chạy chương trình thời gian thực thấp. Nó còn cung cấp giao diện tạo mô hình 3D theo kiểu cây phả hệ theo chuẩn Open Flight? (.flt). Chuẩn này sẽ trở thành dữ liệu cho một số sản phẩm được phát triển trên nền thư viện VEGA hoặc các thư viện có cơ sở là Open GL. Tới nay, các thành viên trong nhóm đã phát triển các mô hình thực tại ảo đền Ngọc Sơn, cho phép vãn cảnh đền trong thời gian thực. Chúng tôi đã sử dụng sơ đồ kiến trúc, cùng những bức ảnh và video độ phân giải cao để tạo nên hình mẫu ảo của khuôn viên đền. Người xem có thể dùng chuột để khảo sát những mô hình này trong thời gian thực, zoom sát lại để nhìn ngắm chi tiết của các bức tranh khảm trên tường hoặc lùi ra xa để quan sát toàn cảnh nội thất đền một cách chi tiết. Từng chi tiết nhỏ như đồ nội thất, màu sắc và kết cấu của các công trình đều được tạo hình trung thực với lịch sử. Thêm vào đó, khung cảnh, ánh sáng và âm thanh cũng thay đổi theo vị trí quan sát. Mục đích của dự án là cung cấp một lựa chọn mới thay cho những tấm ảnh hoặc sơ đồ của các vật tạo tác, đồng thời giúp những người muốn tìm hiểu lịch sử được đắm chìm trong không khí của quá khứ. Công nghệ này cho phép phục chế những di sản đang gặp nguy hiểm, với bầu không khí và bối cảnh của các tòa nhà thuộc thời đại trong lịch sử. Với công mô phỏng thực tại ảo sẽ tạo ra sự ấn tượng về sự du hành ngược thời gian, được thể hiện với hình ảnh ba chiều và âm thanh nổi trên màn hình lớn, sẽ giúp người xem cảm thấy như mình đang sống thực với không gian ảo.

to:
  • Phần mềm mô phỏng cần số lượng khung hình là thời gian thực, nghĩa các khung hình phải liên tục khi dữ liệu được cập nhật (bao gồm cả vị trí và hướng quan sát). Còn hoạt cảnh số lượng khung hình được đặt trước, khi tạo cảnh phải mất hàng giờ để tạo.
  • Phần mềm mô phỏng cần độ tương tác cao để điều khiển sự chuyển động của các đối tượng trong cảnh. Hoạt cảnh không cho phép tương tác, người dùng cảm nhận thự động với cảnh.
  • Sự khác biệt quan trọng khác là tương tác ở mô phỏng là có mục đích. Ngoài ra mô hình trong mô phỏng có phần kém chi tiết hơn trong hoạt cảnh mục đích là để tăng số lượng khung hình
  • Phần mềm mô yêu cầu số lượng khung hình đạt 15-60 fps, phụ thuộc vào độ phức tạp và chi tiết của cảnh. Còn film luôn yêu cầu số lượng khung hình là 24 hoặc tùy thuộc vào yêu cầu và chuẩn của nó nhừng số lượng khung hình luôn cố định theo thời gian.

Dữ liệu hình học

Chuẩn dữ liệu Open Flight? miêu tả dữ liệu 3D rất được ưa thích, gồm đầy đủ các thuật tính dữ liệu 3D và địa hình số để xây dựng các sản phẩm phần mềm mô phỏng tương tác thời gian thực. Hơn cả các công cụ mô hình hóa cơ bản khác. Creator được thiết kế để tạo mô hình có số mặt ít nhất. Làm cho yêu cầu về cấu hình máy tính chạy chương trình thời gian thực thấp. Nó còn cung cấp giao diện tạo mô hình 3D theo kiểu cây phả hệ theo chuẩn Open Flight? (.flt). Chuẩn này sẽ trở thành dữ liệu cho một số sản phẩm được phát triển trên nền thư viện VEGA hoặc các thư viện có cơ sở là Open GL. Tới nay, các thành viên trong nhóm đã phát triển các mô hình thực tại ảo đền Ngọc Sơn, cho phép vãn cảnh đền trong thời gian thực. Chúng tôi đã sử dụng sơ đồ kiến trúc, cùng những bức ảnh và video độ phân giải cao để tạo nên hình mẫu ảo của khuôn viên đền. Người xem có thể dùng chuột để khảo sát những mô hình này trong thời gian thực, zoom sát lại để nhìn ngắm chi tiết của các bức tranh khảm trên tường hoặc lùi ra xa để quan sát toàn cảnh nội thất đền một cách chi tiết. Từng chi tiết nhỏ như đồ nội thất, màu sắc và kết cấu của các công trình đều được tạo hình trung thực với lịch sử. Thêm vào đó, khung cảnh, ánh sáng và âm thanh cũng thay đổi theo vị trí quan sát. Mục đích của dự án là cung cấp một lựa chọn mới thay cho những tấm ảnh hoặc sơ đồ của các vật tạo tác, đồng thời giúp những người muốn tìm hiểu lịch sử được đắm chìm trong không khí của quá khứ. Công nghệ này cho phép phục chế những di sản đang gặp nguy hiểm, với bầu không khí và bối cảnh của các tòa nhà thuộc thời đại trong lịch sử. Với công mô phỏng thực tại ảo sẽ tạo ra sự ấn tượng về sự du hành ngược thời gian, được thể hiện với hình ảnh ba chiều và âm thanh nổi trên màn hình lớn, sẽ giúp người xem cảm thấy như mình đang sống thực với không gian ảo.

June 16, 2006, at 08:10 PM by 203.160.1.52 -
Added lines 1-38:

(:Title TÁI HIỆN CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ BẰNG CỘNG NGHỆ THỰC TẠI ẢO:)

  1. Đặt vấn đề

Hà Nội được xây dựng từ năm 1010, ban đầu còn mang tên Thăng Long dưới triều Vua Lý Công Uẩn. Dấu ấn không phai mờ theo năm tháng và điều dễ nhận thấy nhất là Hoàng Thành với những di tích cung điện của các bậc đế vương; các cửa ô lịch sử, nơi đã từng bảo vệ thành luỹ xưa kia và khu phố cổ với 36 phố phường được hình thành khoảng thế kỷ XV vẫn còn đó. Mỗi tấc đất, mỗi không gian đều phảng phất một không khí lịch sử, in đậm hồn thiêng sông núi. Vì thế mà nhiều ý tưởng, nhiều giải pháp đưa ra nhằm giữ gìn, tái tạo và điểm tô phát triển Thủ đô đang được nhiều người, nhiều giới trong và ngoài nước quan tâm. Nhận thức được tầm quan trọng về giá trị văn hóa lâu dài nhiều mặt của phố cổ và các di tích khác: Nhiều bài viết nghiên cứu về Hà Nội, các chuyên gia đã trình bày không chỉ bằng những chứng lý khô khan mà đưa ra những phân tích, khuyến nghị có cơ sở khoa học, có tình, có lý, có hồn về việc xây dựng Thủ đô ngang tầm với vị trí của Thành phố này, và phục chế, trùng tu các công trình lịch sử đã xếp hạng đang ngày một xuống cấp. Theo số liệu điều tra của Viện Quy hoạch đô thị và Nông thôn (Bộ XD), Hà Nội hiện tồn tại 169 ngôi nhà cổ (có từ thế kỷ XV-XVII), 211 ngôi nhà xây dựng vào thời cận đại (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) và 25 di tích đền, chùa, miếu, đình, nhà thờ... Đó là những di sản lịch sử, kiến trúc, văn hoá vô cùng quý giá mà tổ tiên ta đã để lại cho hôm nay và muôn đời con cháu mai sau. Trước hết, nói về khu phố cổ, nơi lưu giữ rất nhiều giá trị văn hoá quý giá vật thể và phi vật thể của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng. Tên gọi “36 phố phường” bắt nguồn từ tổ chức 36 đơn vị hành chính cơ bản, điển hình thời phong kiến nhà Lê (được phân chia theo kiểu các phường nghề nghiệp). Trên nền 36 phố phường cũ, hiện vẫn có các phố Hàng Bạc, Hàng Chiếu, Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Quạt... chiếm một diện tích 450 ha và với trên 80 công trình di tích lịch sử như chùa, đền, đình, miếu. Nghề cổ, thợ mới và ở đâu đó còn vang lên bài hát mới: “Hà Nội mùa thu... phố xưa nhà cổ, mái ngói thâm nâu”... Mỗi con phố gắn với một tên gọi, một ngành nghề, và một chiến tích lịch sử 12 ngày đêm. Khu 36 phố phường nằm ở phía Đông của Hoàng thành cũ, đã từng là nơi đô hội buôn bán sầm uất, làm tăng thêm vẻ đẹp phong phú, hấp dẫn của đô thị. Nó là một bộ phận không thể tách rời trong cấu trúc của khu vực đô thị cổ Hà Nội nói chung và Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại của nó cho đến nay, dù không còn nguyên vẹn, song nó vẫn mang tính đặc trưng của đô thị cổ mà chỉ Hà Nội mới có. Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây chính là một trong những nơi sinh ra và nuôi dưỡng các truyền thuyết, ca dao, chuyện kể, lễ hội dân gian... Khu phố cổ là một tổng thể kiến trúc độc đáo. Với những đường phố thẳng, ngắn, có chỗ cong, gãy khúc; những mái ngói lô nhô phủ màu rêu phong cổ kính. Các kiến trúc đình, chùa, đền thờ, đình làng truyền thống... với nghệ thuật chạm khắc điêu luyện trên các loại gỗ tốt tạo hình dáng nghệ thuật trên cấu trúc vì kèo, cánh cửa; các đồ đạc như bàn thờ, giường, tủ, ghế, sập, kệ... là những sản phẩm kiến trúc đặc trưng cho các thời kỳ phát triển của lịch sử đất nước, là một phần của đời sống tinh thần, là linh hồn của người dân Thủ đô. Cùng với khu phố cổ thì các di tích khác mang tính quần thể, liên hệ nhiều đến tâm linh, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc như khu vực Hoàng thành mới được khai quật năm 2004 là một sự kiện trọng đại, một thứ quốc bảo, cần được Nhà nước, các ngành chức năng và toàn dân nâng niu, trân trọng, bỏ công sức, trí tuệ, tiền của để khôi phục, bảo tồn. Song, nói đến Hà Nội 36 phố phường, không thể không nhắc tới Hồ Gươm - một bộ phận quan trọng cấu thành trên vùng đất cổ thuộc kinh thành Thăng Long xưa kia. Sự tồn tại và phát triển của Hồ Gươm không chỉ là truyền thuyết kiếm thần của vua Lê Lợi, mà còn ghi sâu trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam hình ảnh một Tháp Rùa lung linh, một cầu Thê Húc in bóng xuống mặt nước biếc xanh và ngôi đền Ngọc Sơn cổ kính. Hồ Gươm - đó cũng là một điểm hội tụ sự ngưỡng mộ của khách thập phương mỗi khi đặt chân đến chốn kinh thành. Hồ Gươm cùng với các khu phụ cận là một mẫu hình về nghệ thuật tổ chức cấu trúc không gian. Ở đây có một hệ thống không gian mở, các quảng trường, các vườn cây, hồ nước liên hoàn với hệ thống không gian lưu thông, có ý nghĩa trong việc tạo thẩm mỹ cảnh quan môi trường đô thị. Đó là một phong cảnh kiến trúc khiêm nhường phù hợp với khí hậu nhiệt đới và tỷ lệ con người sống ở đó tương hợp... Tuy nhiên, hiện nay, phố cổ Hà Nội đang đứng trước những thách thức lớn. Nhiều năm liền, sự quản lý lỏng lẻo, việc cấp phép tuỳ tiện, tình hình chấp hành luật pháp, ý thức kém của một bộ phận dân cư.... đã làm xuống cấp, mất đi hàng trăm công trình kiến trúc văn hoá cổ. Việc quy hoạch chậm trễ, giải quyết vụ việc theo kiểu bị động... đã gây khó khăn cho công việc cải tạo, mở rộng, trùng tu, duy tu các di tích kể cả khu phố cổ. Như một người đẹp ngủ trong lâu đài Hà Nội đã tỉnh giấc, Hà Nội đang được các chuyên gia, KTS, nhà quy hoạch, các nhà vạch chính sách, những người làm công nghệ thông tin cụ thể là những người làm công nghệ mô phỏng thực tại ảo và toàn dân quan tâm để trùng tu tái tạo và xây dựng một Hà Nội cổ kính, hào hoa, linh thiêng, là niềm tự hào trong lòng mỗi người dân.

  1. Phương án giải quyết

Công nghệ thực tại ảo hiện đang rất phát triển trên thế giới. Hiện nay, ở Việt Nam, công nghệ thực tại ảo đang dần được chú ý bởi những thế mạnh của nó. Là một công nghệ số hoá hình ảnh, mô phỏng động, công nghệ thực tại ảo đang được trung tâm công nghệ thông tin và giải pháp số hoá ứng dụng trong việc tái hiện lại hình ảnh của các di tích lịch sử đang ngày một xuống cấp và mai một. Mục đích của hệ thống là mô phỏng các hiệu ứng quan sát và cảm nhận khi thị sát trên một khu vực nhất định. Hệ thống này là sự kết hợp các kỹ thuật mô phỏng sử dụng đồ hoạ 3D với các thiết bị phần cứng.

  1. Thành phần của hệ thống thực tại ảo

Hệ thống thực tại ảo bao gồm 4 thành phần chính sau: bộ tác động (effector), bộ giả lập thực tại (reality simulator), ứng dụng (application), và các đối tượng hình học (geometry). Bộ tác động (effector), là bất kỳ dạng thiết bị tương tác nào cho phép truy cập tới môi trường ảo. Chúng bao gồm những thiết bị đầu ra có khả năng kích thích các giác quan để tạo nên cảm giác về sự hiện hữu trong thế giới ảo. Chẳng hạn như màn hình đội đầu HMD, chuột, các tai nghe âm thanh nổi - và những thiết bị đầu vào có khả năng ghi nhận nơi người sử dụng đang nhìn vào hoặc hướng đang chỉ tới, như thiết bị theo dõi gắn trên đầu (head-trackers), găng tay hữu tuyến (wire-gloves). Bộ giả lập thực tại (reality simulator) là trái tim của hệ thống thực tại ảo, bao gồm hệ thống máy tính và phần cứng ngoại vi, thiết bị đồ hoạ và multimedia; cung cấp cho bộ tác động những thông tin giác quan cần thiết. Trong hệ thống mô phỏng cabin lái, thì mô hình cabin là thành phần này. Ứng dụng (application) là phần mềm mô tả ngữ cảnh của giả lập, động lực học, cấu trúc của nó, và các quy luật tương tác giữa các đối tượng và người dùng. Ứng dụng xây dựng nên thế giới ảo và các yêu cầu mô phỏng cụ thể. Các loại ứng dụng rất đa dạng, phụ thuộc vào platform (Intel, Sun, SGI ...) Các đối tượng hình học (geometry). Thành phần này bao gồm những thông tin mô tả các thuộc tính vật lý (hình dạng, màu sắc, vị trí...) của các đối tượng trong môi trường ảo. Thông thường, các đối tượng hình học được xây dựng bởi các phần mềm CAD, sau đó dữ liệu có thể được chuyển qua một trong số các định dạng file khác phù hợp với việc thể hiện trong ứng dụng. 2.2 Yêu cầu của hệ thống thực tại ảo Đối với hệ thống này, hai yêu cầu quan trọng nhất cần giải quyết là: • Thứ nhất là xây dựng mô 3D toàn bộ khu vực cần bảo tồn, với chất lượng hiển thị đồ họa tốt nhất có thể. Các đo đạc 3 chiều nói ở phần trước giúp chúng ta có thể tái hiện được các di vật, đồ tạo tác, nhà cửa và các vật thể 3 chiều khác trên máy tính. Hiện nay chúng tôi đã tiến hành xây dựng mô hình 3 chiều của đền Ngọc Sơn một cách chi tiết. Mô hình này được xây dựng bằng cách tẩm phủ các kiến trúc bề mặt bằng công nghệ mô phỏng nên bộ khung xương hình học được dựng bằng phần mềm Multigen Creator sau đó chuyển đổi sang dữ liệu đặc thù của chương trình hiển thị giúp người dùng có thể thị sát ở những góc độ khác nhau. Khi tiến hành tái tạo các di sản văn hóa cổ, một hệ thống các vật mẫu sẽ được kiến tạo dựa trên những dữ liệu đo đạc 3 chiều trực tiếp trên các di vật để làm mô hình trên máy tính. Qua đó có thể tiến hành xây dựng một bảo tàng số hóa các dữ liệu lịch sử. Việc thành công của dự án này đòi hỏi những nghiên cứu lịch sử nghiêm túc gắn liền với công nghệ mô phỏng thực tại ảo. • Yêu cầu thứ hai là xây dựng chương trình mô phỏng về mặt hình ảnh các hiệu ứng khi người dùng thị sát khu vực. Bởi chất lượng hiển thị đồ họa là nền tảng của bất kỳ một hệ thống mô phỏng thực tại ảo nào, thông qua các hình ảnh trực quan, các cảnh quan để người dùng cảm nhận độ trung thực của hệ thống mô phỏng. Với kỹ thuât đồ họa hiện nay có thể mô phỏng được hầu hết các hiệu ứng đồ họa chất lượng cao giúp tạo lập các sản phẩm mô phỏng và thực tại ảo.

Đối với hệ thống hiển thị thời gian thực điều kiện tốt nhất của số khung hình hiên thị trên màn hình là trong khoảng 60 đến 85 frames/second. Để hiểu rõ hơn ta hãy tìm hiểu sự khác nhau giữ đồ họa 3D thời gian thực và hoạt cảnh 3D. Hoạt cảnh được sử dụng trong các sản phẩm Mutilmedia cụ thể là tạo film, hoặc các sản phẩm đồ họa phục vụ công việc in ấn. Còn phần mềm đồ họa thời gian thực được ứng dụng trong các ứng dụng mô phỏng, ví dụ như tập bay, tập lái, trò chơi, có khả năng tương tác. Cả hai loại sản phẩm này đều sử dụng các hình ảnh mô hình thực tế với mức độ chi tiết cao cùng với các thuật toán làm trơn các trạng thái thay đổi của cảnh đồ họa. Thông qua các thuật toán tô bóng số lượng khung hình ngữ cảnh trong một đơn vị thời gian. Nhưng có vài sự khác biệt như sau. • Phần mềm mô phỏng cần số lượng khung hình là thời gian thực, nghĩa các khung hình phải liên tục khi dữ liệu được cập nhật (bao gồm cả vị trí và hướng quan sát). Còn hoạt cảnh số lượng khung hình được đặt trước, khi tạo cảnh phải mất hàng giờ để tạo. • Phần mềm mô phỏng cần độ tương tác cao để điều khiển sự chuyển động của các đối tượng trong cảnh. Hoạt cảnh không cho phép tương tác, người dùng cảm nhận thự động với cảnh. • Sự khác biệt quan trọng khác là tương tác ở mô phỏng là có mục đích. Ngoài ra mô hình trong mô phỏng có phần kém chi tiết hơn trong hoạt cảnh mục đích là để tăng số lượng khung hình • Phần mềm mô yêu cầu số lượng khung hình đạt 15-60 fps, phụ thuộc vào độ phức tạp và chi tiết của cảnh. Còn film luôn yêu cầu số lượng khung hình là 24 hoặc tùy thuộc vào yêu cầu và chuẩn của nó nhừng số lượng khung hình luôn cố định theo thời gian. 2.3 Dữ liệu hình học Chuẩn dữ liệu Open Flight? miêu tả dữ liệu 3D rất được ưa thích, gồm đầy đủ các thuật tính dữ liệu 3D và địa hình số để xây dựng các sản phẩm phần mềm mô phỏng tương tác thời gian thực. Hơn cả các công cụ mô hình hóa cơ bản khác. Creator được thiết kế để tạo mô hình có số mặt ít nhất. Làm cho yêu cầu về cấu hình máy tính chạy chương trình thời gian thực thấp. Nó còn cung cấp giao diện tạo mô hình 3D theo kiểu cây phả hệ theo chuẩn Open Flight? (.flt). Chuẩn này sẽ trở thành dữ liệu cho một số sản phẩm được phát triển trên nền thư viện VEGA hoặc các thư viện có cơ sở là Open GL. Tới nay, các thành viên trong nhóm đã phát triển các mô hình thực tại ảo đền Ngọc Sơn, cho phép vãn cảnh đền trong thời gian thực. Chúng tôi đã sử dụng sơ đồ kiến trúc, cùng những bức ảnh và video độ phân giải cao để tạo nên hình mẫu ảo của khuôn viên đền. Người xem có thể dùng chuột để khảo sát những mô hình này trong thời gian thực, zoom sát lại để nhìn ngắm chi tiết của các bức tranh khảm trên tường hoặc lùi ra xa để quan sát toàn cảnh nội thất đền một cách chi tiết. Từng chi tiết nhỏ như đồ nội thất, màu sắc và kết cấu của các công trình đều được tạo hình trung thực với lịch sử. Thêm vào đó, khung cảnh, ánh sáng và âm thanh cũng thay đổi theo vị trí quan sát. Mục đích của dự án là cung cấp một lựa chọn mới thay cho những tấm ảnh hoặc sơ đồ của các vật tạo tác, đồng thời giúp những người muốn tìm hiểu lịch sử được đắm chìm trong không khí của quá khứ. Công nghệ này cho phép phục chế những di sản đang gặp nguy hiểm, với bầu không khí và bối cảnh của các tòa nhà thuộc thời đại trong lịch sử. Với công mô phỏng thực tại ảo sẽ tạo ra sự ấn tượng về sự du hành ngược thời gian, được thể hiện với hình ảnh ba chiều và âm thanh nổi trên màn hình lớn, sẽ giúp người xem cảm thấy như mình đang sống thực với không gian ảo.

OpenSceneGraph

Tài tiệu Open GL

Tài liệu OSG

Hình ảnh một số sản phẩm

nhandan4.jpg: 800x600, 156k (December 01, 2011, at 10:13 AM)
BigC-2.jpg: 800x500, 64k (December 01, 2011, at 10:13 AM)
ns5.jpg: 700x439, 205k (December 01, 2011, at 10:13 AM)
vsg_01.jpg: 600x450, 55k (December 01, 2011, at 10:13 AM)
vanmieu6.jpg: 800x500, 171k (December 01, 2011, at 10:13 AM)
2.jpg: 600x375, 113k (December 01, 2011, at 10:13 AM)

sửa SideBar

Edit - History - Print - Recent Changes - Search
Page last modified on June 16, 2006, at 08:13 PM